Nhà thờ Tộc thuộc về lĩnh vực Tín ngưỡng chứ không phải lĩnh vực Tôn giáo. Do đó, mô-típ nghệ thuật và nghi thức thờ cúng của Nhà thờ Tộc cũng có tính bản sắc riêng. Về chữ nghĩa thì nhà thờ Tộc thường có các “từ khóa” như “Triệu Thủy –Triệu Tổ – Quang Tiền – Dụ Hậu...”, các hoành phi, câu đối nói về công đức Tổ tiên hoặc khuyến dạy con cháu các điều nhân nghĩa lễ trí tín...

Hội đồng gia tộc giao cho tôi ghi lại chữ Nho hoành phi, câu đối ở nhà thờ cũ trước khi triệt hạ, với định hướng là lấy lại nguyên văn câu chữ của nhà thờ cũ do các thế hệ cha ông ta trước đây đã chọn lọc, cân nhắc. Cụ thể :

1.a) Trên cổ lầu sẽ có cụm từ ghi bằng chữ quốc ngữ cỡ lớn để ai  đi ngang qua đường cũng đọc được : NHÀ THỜ TỘC TRẦN VĂN

 Biển hiệu bằng chữ quốc ngữ trên cổ lầu để trực quan, ai cũng đọc được

 

b) Trên bộ cửa chính, sẽ có một “thủ quyển” ghi biển hiệu “TRẦN VĂN TỘC – TỪ ĐƯỜNG” bằng chữ Nho.

Ngoài cổng, vẫn giữ lại cụm từ “TRẦN VĂN TỘC – TỪ SỞ” bằng chữ Nho.

(“Từ đường” là nhà thờ, còn “Từ sở” là khuôn viên, địa sở của Nhà thờ)

 

2) Hai bên trụ cổng vẫn giữ 2 câu đối :

BẮC ĐỊA NGUYÊN LƯU THIÊN CỔ TẠI

NAM SƠN THẮNG CẢNH VẠN NIÊN XUÂN

Chữ trong câu đối ở cổng :

Bắc địa : ý chỉ nguồn gốc Tộc ta ở đất Bắc của VN.

Nam sơn : ý chỉ vùng đất lập nghiệp của Tộc hiện nay.

Nguyên lưu” là nguồn nước chảy. Tạm dịch : 

 Đất Bắc nguồn xưa còn chảy mãi / Trời Nam thắng cảnh vạn mùa xuân.

 Thế hệ ông cha ta đã rất sáng tạo khi dùng chữ “xuân” thay cho chữ “tồn”. Tộc ta không viết “vạn niên tồn” mà viết “vạn niên xuân”, rất hay.  Cũng như Bác Hồ viết “Làm cho đất nước càng ngày càng xuân” !

 3) Trên 2 cột cái trước bàn thờ chính, vẫn giữ nguyên 2 câu đối :

1. TRẠCH TỔ KHẢO TINH THẦN VẠN ĐẠI NHƯ KIẾN

2. BỒI TỬ TÔN MỆNH MẠCH BÁCH THẾ KÌ XƯƠNG

 

 Câu 1:

“Trạch” là ân đức thấm tới mọi người.

Nghĩa của câu 1 là :

Ân đức của Tổ Tiên thấm đượm muôn đời sau, như chúng ta đã từng thấy (ở đời nay)

 Câu 2:

“Bồi” là vun đắp, vun bón

Nghĩa của câu 2 là :

Vun đắp cho lớp lớp thế hệ con cháu hanh thông, sáng tươi, rạng ngời.

 

 4) Trong bàn thờ chính, vẫn giữ nguyên từ “TRIỆU THỦY”  

TRIỆU :là bắt đầu, tạo mới

THỦY : là mới, trước

  Ý nói là bàn thờ ở giữa là để thờ các vị Thủy Tổ và Liệt Tổ từ đời thứ Nhất đến đời thứ Tám đã có công gầy dựng, khai sáng Tộc Trần Văn của chúng ta.

Về 2 câu đối : 

1. Dĩnh thủy thanh lưu truyền vạn cổ

2. Trần sơn diễn dẫn phát thiên thu.

Dĩnh” là viết tắt từ “Dĩnh Xuyên”, tương truyền đó là một “quận âm” của Tộc Trần nói chung, được dùng mỗi khi cúng tế Tổ tiên tộc Trần.

Diễn văn khánh thành Nhà thờ Tộc năm 1992 có dịch nghĩa 2 câu đối này là :

Nguồn Dĩnh thủy được gạn đục khơi trong, lưu truyền cái thanh trong lại cho con cháu nên người Tộc Trần ắt sẽ diễn dẫn và phát triển mãi ngàn năm. 

5) Hai bàn thờ Tả - Hữu, vẫn giữ nguyên từ “Quang tiền” & “Dụ hậu”

Quang tiền” là làm rạng rỡ công đức các đời trước, công đức của Tổ tiên.

Hai câu đối 2 bên : Tự Tiên Tổ thiên trường địa cữu - Phù nhi tôn nhật vượng nguyệt tân

(Tự là thờ cúng ; Cữu là lâu dài ; Phù là nâng đỡ, phù hộ ngầm ; Nhi tôn : con cháu)

Tạm dịch : Thờ ông bà, Tổ tiên mãi mãi như trời dài đất rộng. Tổ tiên sẽ phù hộ con cháu ngày càng thịnh vượng, thanh tân.

Dụ hậu” là nêu gương sáng cho đời sau noi theo ; cũng được hiểu là đem lại sự rộng rãi, thoáng đạt, hanh thông cho các đời sau.

Hai câu đối 2 bên : "Tôn1 công Tổ đức thiên thu tại - Tử Hiếu tôn2 hiền vạn đại như"

(Trong cặp câu đối trên có 2 chữ "Tôn" đồng âm khác nghĩa, cách viết khác nhau. Chữ tôn1 là "tôn trọng, tôn kính" ; còn chữ tôn2 có nghĩa là "cháu"). Tạm dịch :

Nhờ biết tôn kính công đức của Tổ tiên từ ngàn xưa đến nay nên ngàn đời sau con cháu cũng sẽ hiếu thảo (như ta đã hiếu thảo với cha ông của mình) 

 6) Định hướng một số việc sẽ làm :

 Khi thợ đắp hồ rồi múc, khoét thành chữ, nếu thợ biết chữ Nho, biết phân biệt các nét chữ như nét chấm, nét sổ, nét phẩy, nét mác, nét khuynh, nét xước, nét hất... thì tốt. Nếu thợ không biết chữ Nho thì họ sẽ “vẽ chữ” chứ không "viết chữ", có khi thành chữ khác mà không thể tìm thấy ở bất kì Từ điển Hán Việt nào! Do đó :

a) 2 câu đối treo ở 2 cây cột cái trước bàn thờ chính thì Tộc mua gỗ tốt để thợ mộc đục chạm rồi sơn son thếp vàng, sẽ tìm cách kèm chữ quốc ngữ theo mỗi chữ Nho để bà con và quan khách có thể đọc hiểu đại khái nội dung.

b) Câu đối ngoài cổng (Bắc địa nguyên lưu...) thì đắp hồ rồi cẩn, vẽ theo kiểu truyền thống. Sẽ in chữ Nho vi tính  trên giấy de-can bằng kích cỡ thật như khi đắp vẽ để tăng độ chính xác tối đa.

c) Các chữ lớn như “Triệu thủy, Quang tiền, Dụ hậu” cũng đắp hồ rồi cẩn, vẽ. Cũng sẽ in chữ Nho vi tính bằng kích cỡ thật để đắp vẽ theo.

d) Riêng 6 câu đối ở 3 khóm thờ, cỡ chữ nhỏ, rất khó đắp vẽ chính xác, chúng tôi dự tính sẽ dùng kĩ thuật “phun chữ vi tính” để đục chữ bằng máy trên đá màu rất chính xác, dễ kèm chữ quốc ngữ theo mỗi chữ Nho để con cháu hiểu.

Nói chung, nếu không dùng chữ Nho thì không có vẻ cổ kính của nhà thờ, nhưng phải kèm theo chữ quốc ngữ thì mới hiệu quả về mặt vinh danh công đức Tổ tiên và giáo dục con cháu lo học hành, tu dưỡng. 

                                                                                                                  Trần Văn Hảo

 Ghi chú : Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến về các nội dung trên. Đồng thời cũng mong nhận được bài vở do chính người trong Tộc ta viết ra để đăng lên Website của Tộc. Ý kiến, bài vở xin gửi về địa chỉ email của 2 thành viên Ban quản trị (có ghi ở Trang chủ Website này). Xin cảm ơn ! TVH 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Khách trực tuyến

Hiện có 37 khách, 0 thành viên online