(Trần Văn Hảo)

Khi tham gia Ban Xây dựng Nhà thờ Tộc với chức trách là Thủ quỹ và Văn thư, tôi buộc phải nghiên cứu nhiều tư liệu và tham vấn nhiều “nhân sĩ, trí thức cổ học”  nên đã hiểu biết nhiều vấn đề mới mẻ so với lúc còn là "tộc viên đại trà". Tôi sẽ lần lượt gửi đến bà con dưới hình thức các câu "hỏi - đáp".

Phần 1 dưới đây đã in phát cho đại biểu và bà con trong tập "Diễn văn Khánh thành Nhà thờ Tộc" dưới tiêu đề “100 câu Hỏi Đáp về “Việc Tộc” mà trai Tộc cần biết”, từ câu 1 đến câu 12.

 

Câu 1) Có thể tổ chức buổi Tế Lễ ở Nhà thờ Tộc với những hình thức (cấp độ) nào ?

“Cúng tế” là nghi thức quan trọng hàng đầu của bất cứ một lễ hội nào. Có 3 cấp độ Tế Lễ :

a) Mật Niệm : Có hoặc không có chiêng trống, không có ban nhạc cổ.

b) Tam Tuần : Có ban nhạc cổ, có xướng “Hưng, bái”... Buổi lễ có “3 tuần” gồm “Sơ hiến lễ” (phần dâng lễ ban đầu) ; Á hiến lễ (phần dâng lễ lần thứ hai) & “Chung hiến lễ” (tuần lễ thứ ba). Ba phần trên như là “mở bài, thân bài & kết luận” trong một bài văn.

c) “Bịện Nghi” : Cũng như “Tam tuần” nhưng có thêm phần “diễn xướng”. Nét tiêu biểu của “Bịện nghi” là các “lễ sanh” đứng ở ngoài hiên, khi nghe “Hành Sơ hiến lễ”... thì lễ sanh mới bưng “hương, rượu...” đi vào, đi chậm rãi từng bước theo hình chữ Tâm

Lễ An vị ở Nhà thờ Tộc Trần Văn Xuyên Tây sẽ được tiến hành với hình thức “Tam tuần”, còn trong ngày khánh thành (02/02) thì có thêm phần “thày” của nhạc sanh.

 

Câu 2) Cấu trúc một bài Văn Tế ở Nhà thờ tộc gồm những phần nào ?

Bài Văn tế Tiên linh ở Nhà thờ Tộc ta có 3 phần, tạm gọi như sau :

a) Phần “Mở đầu” : Cộng hòa xhcn VN... / năm tháng ngày/ tên người chánh tế...

b) Phần “Kính thưa” : từng thế hệ Tổ tiên, đến “vong linh Tử, tôn...đồng lai phối hưởng

c) Phần “Hậu ngữ”, gồm Hậu ngữ Nho và Hậu ngữ Nôm, là phần ca ngợi công đức của Tổ tiên, xin Tổ tiên phù hộ và lời hứa của cháu con...(xem bài Văn tế - cũng ở thư mục "Tư liệu")

 

Câu 3) Nhà thờ mới của Tộc Trần Văn Xuyên Tây có thêm các câu đối mới nào ?

          Nhà thờ cũ có 6 cặp câu đối và 1 bức hoành phi (Xem bài đã đăng ở thư mục Tư liệu Website Tộc). Nhà thờ mới có có thêm 9 cặp câu đối mới và thêm 2 bức hoành phi.

a) Mặt trước trụ cổng có 2 câu chữ quốc ngữ :

Mở rộng Nghi môn, muôn dặm đón chào con cháu tới 

Tân trang Từ sở, ngàn thu thành kính khói hương bay

b) Mặt sau 2 trụ cao của cổng lấy lại 2 câu đã viết trong diễn văn Khánh thành Nhà thờ Tộc năm 1992, mỗi câu thêm 4 chữ ở đầu câu :  

Cây đức vun trồng, cành lá sum suê nhờ cội cả.

Nghĩa nhân gìn giữ, sông hồ dài rộng bởi nguồn sâu

c) Mặt sau 2 trụ thấp :              木出千枝由有本 Mộc xuất thiên chi do hữu bổn
                                            水流萬派溯從源 Thủy lưu vạn phái tố tòng nguyên.

 Đã dán dưới mỗi câu một miếng đá phiên âm và dịch nghĩa : Cây sinh nghìn nhánh do gốc vững / Nước chảy trăm dòng bởi nguồn sâu

d) Trước Miếu Thổ Thần có 2 câu : Thể phách tồn thiên địa / Tinh thần tại tử tôn

e) Trước b.phong : Bách thế bản chi thừa cựu ấm/Thiên thu hương hỏa tráng tân cơ.

g) Mặt sau bình phong có 2 câu quốc ngữ thỉnh từ khu mộ Tổ về : (Trải bước thăng trầm) Đức Tổ khai cơ lưu hậu thế / (Thái bình thịnh trị) Nền xưa tái tạo niệm Tiền Nhân

h) Trong Tiền đường có 2 câu chữ Nho mới : Thượng bất phụ Tiên Tổ di lưu chi khánh / Hạ túc vi hậu sinh chiêm ngưỡng chi tiêu (đối với BỀ TRÊN : (thì chúng ta) không phụ ơn khai cơ của Tiên Tổ / Đối với lớp DƯỚI (thì chúng ta phải) đủ tư cách để con cháu hậu sinh noi theo)

i) Hai trụ tường sau Hậu tẩm có 2 câu mới : “Di khuyến tôn mưu, đế tạo phi cơ thùy bất bạc / Khắc thành tiên chí, quang huy thế đức vĩnh lưu phương” Nghĩa là : Khuyên dặn cháu con, nền móng tốt tươi, đừng chuyển đổi / Chí (của người) xưa (đã) thành tựu, rạng người thế đức mãi thơm danh.

Đây là hai câu đối khuyết danh tác giả, có in trong nhiều tài liệu về “Hoành phi, câu đối”, khẳng định “nền móng tốt tươi, không chuyển đổi”, ý dặn cháu con đời sau không nên dễ dãi trong việc đổi tên Tộc hoặc không để mất tính bản sắc của Tín ngưỡng.

k) Trên 2 bức thư họa ở cổ lầu có 2 câu đối nổi tiếng của ông Quan Hường, một người ở Phái Nhì, đỗ Cử nhân thời phong kiến, đã viết cho Đình Tiền hiền Xuyên Tây :

Diệp mậu giả căn thâm, thiên cổ phong quang Hồng Lĩnh Bắc (ca ngợi quê cũ ở Bắc)

Kim hoa bằng tích thụ, kĩ trùng giáp đệ Hải Vân Nam (ca ngợi quê mới ở Q.Nam ĐN)

m) Hai bức Hoành phi : HẢI ĐỨC SƠN CÔNG (công đức Tổ tiên như núi & biển)

& TỔ CỦNG TÔN BỒI (Tổ tiên gầy dựng, con cháu vun bồi, đắp xây cho tươi đẹp hơn)

n) Mặt trong biển cổng có ghi “truyền thống” của Tộc ta : HIẾU HỌC & TRUNG HẬU

Một số câu đối nêu trên đã được trích nêu vào bài Văn tế và diễn văn Khánh thành.

Câu 4) Có thể làm Nhà thờ Tộc theo những mô hình nào ?

 

                   Mô hình (a)                        Mô hình (b)                             Mô hình (c) 

Mô hình (a) : như là “nhà ở” gồm 2 mái nhà và 1 hiên

Mô hình (b) : TIỀN ĐÊ HẬU KHUYNH (tiền đường thấp, hậu tẩm cao)

Mô hình (c) : TIỀN KHUYNH HẬU ĐÊ (tiền đường cao, hậu tẩm thấp)

Đang có các quan niệm đối nghịch giữa 2 mô hình (b) và (c). Người làm theo mô hình (b) thì cho rằng "TIỀN ĐÊ HẬU KHUYNH, con cháu thông minh" (vì dành phần cao rộng mát mẻ cho Tổ tiên ông bà ở Hậu tẩm nên Tổ tiên phù hộ!?) và cho rằng "TIỀN KHUYNH HẬU ĐÊ, con cháu u mê" vì khoe mặt trước cho đẹp mà để chỗ thờ ông bà ẩm thấp, nên ông bà quở trách!?). Thường thì làm theo mô hình (c) dễ đẹp hình thức và ít tốn kém hơn mô hình (b)

  

       Mô hình (d)                             Mô hình (e)                                 Mô hình (g)

 Mô hình (d) : TIỀN HẬU BÌNH (tiền đường và hậu tẩm cao bằng nhau, để khỏi ai nói "thông minh" hay "u mê")

Các nhà thờ của chư tộc ở quê mình thường làm theo mô hình “Trùng thiềm điệp ốc” có 4 mái như mô hình (b), (c) & (d) nêu trên.

Mô hình (e) : Nhà thờ Tộc ta làm theo mô hình TRÙNG LƯƠNG TRÙNG THIỀM, như các đền miếu thờ Vua quan Nhà Trần thế kỉ 13, gồm 8 mái, “Tiền đường” và “Hậu tẩm” có chung cây đòn đông nên gọi là “Trùng lương”, và có chung mái thềm (thiềm).

Mô hình (g) : BIỆT THIỀM ĐIỆP ỐC (2 nhà riêng, 2 thềm nhà riêng, đôi nơi có thêm khoảng sân ngăn cách hậu tẩm với tiền đường, như nhà cổ ở Hội An)

 

Câu 5) Xin cho biết cách phân biệt “tả/hữu”; “đông/tây”

Ta thường nghe nói : Tả tùng tự, Hữu tùng tự (bàn “thờ theo” bên trái, bàn “thờ theo” bên phải) ; “Đông bình Tây quả” (đặt bình hoa ở phía Đông, đặt nải quả ở phía Tây)... Vậy lấy ai làm chuẩn ? Lấy vị trí “Thủy Tổ” đang tọa trên khóm thờ ở căn giữa nhìn ra sân” làm chuẩn, bên tay trái của Thủy Tổ là bên “Tả” hoặc phía “Đông” ; bên tay phải của Thủy Tổ là bên “Hữu” hoặc phía “Tây”.

 

Câu 6) Các chữ cỡ lớn (đại tự) ở 3 khóm thờ trong Hậu tẩm có ý nghĩa gì ?

a)Bàn thờ ở giữa có chữ TRIỆU THỦY : là nơi thờ từ Thủy Tổ mà ta biết tên trong Gia phả (Trần Công húy N.), và thờ các đời trước của Thủy Tổ mà chúng ta không thể biết tên.

b) Bàn thờ bên “tả” có chữ QUANG TIỀN : Theo Phan Kế Bính, bàn thờ bên “tả” thờ các vị Liệt Tổ có con cái truyền kế đến bây giờ. Quang Tiền là “Làm rạng danh Tổ tiên”

c) Bàn thờ bên “hữu” có chữ DỤ HẬU : Theo PKB, bàn thờ bên “hữu” thờ các vị Liệt Tổ không có con cái truyền kế. Dụ Hậu là “Tạo sự rộng rãi, thuận lợi” cho con cháu đời sau.

Các bàn thờ “Tả tùng tự, Hữu tùng tự” thờ các vong linh “Vô tự tùng tự cập hữu danh vô vị hữu vị vô danh, sút sảo tảo vong sa lạc bất tường...” có đọc trong Văn tế.

 

Câu 7) Vì sao không nên kê thêm một cái bàn trước Hương án khi tế lễ ?

a) Tác phẩm “Việt Nam phong tục” do Cử nhân Phan Kế Bính viết cách đây hơn 100 năm, có ghi rõ: “Hương án là “bàn hương”, là cái bệ đặt cái lư hương và 2 chân đèn bằng đồng đã xây cao lên ở phía trước của khóm thờ. Bên trong “Hương án” là “Bàn soạn” để chưng biện các lễ phẫm dâng lên Tổ Tiên. “Hương án” cao hơn “Bàn soạn” là để che “bàn soạn”, không để con cháu “nhìn vô miệng” Tiên linh lúc các vị  “phối hưởng” các món ăn do con cháu tiến cúng.

Bên trong cùng là “Án nội”, nếu là căn giữa thì đó là nơi an tọa thường hằng của Thủy Tổ (từ đời thứ I về trước) ; còn nếu là hai bàn thờ ở 2 căn thứ (Quang Tiền & Dụ Hậu) thì đó là nơi thờ Liệt Tổ (từ đời thứ II đến ông bà, cha mẹ đã quá cố của chúng ta).

Quốc Tổ Hùng Vương được thờ cúng ở Đình Làng trở lên chứ không thờ cúng ở NT Tộc.

b) Do đó, không cần đặt thêm một cái gọi là “bàn hương” hoặc cái “bàn hội đồng”  ngăn cách giữa “Hương án” với Chánh tế.

Câu 8) Cái Miếu nhỏ bên trong cổng Nhà thờ Tộc ta là Miếu gì ?

Các sách vở ngày xưa như “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính ; sách “Tín ngưỡng Việt Nam” của Toan Ánh... đều cho rằng các “Bà Tổ Cô” vốn đã được thờ chung trong Hậu tẩm rồi, còn cái Miếu Tổ Cô chỉ là sản phẩm của“mê tín, bói toán, đồng bóng”. Trong Văn Tế Tổ tiên ở Hậu tẩm có ghi :

- Cao tổ cô liệt vị chi linh ; - Tằng tổ cô liệt vị chi linh ; ... Tộc nội khảo tỉ bá thúc khảo, tỉ  di tỉ muội tử tôn hôn điệt ; Huynh đệ  di tỉ muội... Như vậy các Bà Cô đã được cúng trong Hậu Tẩm rồi.

Cả nước VN thờ các vị “Thượng đẳng Thần” , mỗi vùng miền (tỉnh, huyện, làng) thờ thêm các “Trung đẳng Thần”. Sách “Minh Mạng chính yếu”, quyển thứ 12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839) có ghi thêm một vị “Hạ đẳng Thần” tên là Thành hoàng Bổn cảnh (神隍本境) là vị Thần ở mỗi gia đình hoặc ở Nhà thờ Tộc. (Thành là cái bức tường rào ; hoàng là cái hào bao quanh cái tường rào đó ; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành và các thứ bên trong cái thành”. Vậy Thành hoàng bổn cảnh (Thổ Công, Thổ Địa) là vị Thần trông coi, bảo trợ trong phạm vi “Từ sở” của Nhà thờ Tộc ta vậy.

Nhà thờ cũ của Tộc ta không xây cái Miếu mà chỉ có một bát hương đặt trên bình phong, tượng trưng cho bàn thờ Thổ Thần (Thành hoàng, Thổ Công, Thổ Địa), vì từ xưa tục ngữ đã có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Và Văn tế khánh thành 1992 của Tộc ta ghi : “Bổn xứ Thành hoàng thổ địa Táo phủ Thần quân”, là vị Thổ Thần nêu trên. Bên trong Miếu chỉ ghi 2 chữ “LINH HIỂN” và bên ngoài ghi nguyên văn lời của Khổng Tử dạy học trò là : “敬神如神在KÍNH THẦN NHƯ THẦN TẠI”, nghĩa là “Thờ Thần như là Thần đang còn sống vậy”. 

 

Câu 9) Tộc Trần Văn Xuyên Tây đã có mấy lần làm Nhà thờ Tộc ?

Hiện nay trong vườn của ông Trần Văn Đức ở Mỹ Hòa vẫn còn dấu vết ngôi Từ đường của Tộc ta xây từ 1930, đến năm 1947 bị Pháp đốt phá. Như vậy, Tộc ta đã 3 lần làm nhà thờ, như đã ghi công đức ở “cánh gà” bên tả của ngôi từ đường mới : Tạo lập 1930 ; Tái tạo 1992 & Tân tạo 2014”

 

Câu 10) Cặp linh vật bằng đá ở Nhà thờ Tộc ta là gì ?

Cặp linh vật thuần Việt đó tên là “Nghê Sư Rồng” vì nó hội tụ các bộ phận dũng mãnh của các mãnh thú như thân và chân của Sư Tử, đầu Rồng, cái kì của con Nghê, cái sừng của con Trâu, móng vuốt của chim ưng. Vật liệu : đá cẩm thạch, do gia đình ông Trần Như Sung tiến cúng cho Tộc.

 

Câu 11) Về tên Tộc

Vừa qua, một số bà con đề nghị thay biển hiệu ngoài cổng “Trần Văn Tộc Từ Sở 所祠族文陳” thành “Trần Tộc Từ Đường 堂祠族陳”, nghĩa là bỏ chữ “Văn” và thay chữ “Sở” thành chữ “đường”.

Nhưng nghiên cứu trong Gia Phả chữ Nho của các Phái thì chữ “Văn文” đã có từ thời vua Tự Đức, cách đây hàng trăm năm rồi chứ không phải Ban Xây dựng 1992 tự ý thêm vào. Chữ Văn giúp phân biệt Tộc ta với các tộc Trần Hữu, Trần Tấn, Trần Phước, Trần Đức, Trần Công... ở quê mình nên HĐGT không bỏ chữ “Văn 文”.

Câu đối mới ở Hậu tẩm của Nhà thờ có ghi : “Di khuyến tôn mưu, đế tạo phi cơ thùy bất bạc” có nghĩa là “Khuyên dặn cháu con, nền móng tốt tươi, đừng chuyển đổi”. Có ý dặn các thế hệ hậu sinh đừng đổi tên Tộc một cách dễ dãi, nóng vội.

Trong tình thế cấp bách phải chọn lựa gấp giữa “Trần” với “Trần Văn” để thợ đắp vẽ biển hiệu cho kịp tiến độ thi công, nhưng HĐGT đã phân tích có tình có lí để quyết định không đổi tên Tộc, và đã nhận được sự đồng thuận của toàn thể bà con gần xa.

 

Câu 12) Phân biệt “từ sở - từ môn – từ đường”

a) Nhờ truyền thống “biết ơn” của dân tộc ta đối với những ông “Tiền hiền” có công đức dẫn nhiều đoàn người “Nam tiến” nên lãnh thổ đất nước ta mới kéo dài đến “Mũi Cà Mau” như hiện nay. Ông Tiền hiền ở làng Mỹ Xuyên quê ta người tộc Lê, họ tên là “Lê Quý Công”. Vua Lê Thánh Tông đã phong cho Ông tước Chánh Đề Đốc Hàm Hùng Long Hầu.

b) Theo các nhà nghiên cứu, ngày xưa các công trình lớn hoặc công trình của nhiều tộc họ thì trên biển hiệu cổng mới được dùng chữ “môn” như Lý môn (cổng làng), Cổng Ngọ Môn (Kinh thành Huế), (Khải Hoàn Môn, Thiên An Môn, Thụ Hàng Môn) ; cổng Nhà thờ Ngũ xã (thờ Tiền Hiền của 50 Tộc của 5 xã, ở Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam), hoặc Tộc nào có ông Thủy Tổ được vua ban sắc phong Tiền Hiền thì cổng nhà thờ của tộc đó mới có chữ “môn”, còn Nhà thờ của một Tộc “Hậu Hiền” thì ghi chữ “Sở” ở biển hiệu trên cổng. Và Ban Xây dựng Nhà thờ năm 1992 và 2014 của Tộc ta đã giữ đúng “đạo Hậu Hiền”, chỉ ghi ngoài cổng là “Từ sở” chứ không ghi là “từ môn”.

Còn “Từ đường 祠堂” là “nhà thờ”, thì không thể thờ Tổ tiên ngoài cổng được, nên Nhà thờ 2014 vẫn giữ y biển hiệu “Trần Văn Tộc Từ Sở 所祠族文陳” ở trước cổng như cũ. 

Lời bạt Phần 1 : Người xưa có câu "Thư bất tận ngôn", nghĩa là "văn bản viết" thường không nói rõ hết mọi vấn đề cần nói để tránh "dài dòng văn tự", và vì thế cũng thường gây hiểu nhầm so với ý tưởng của tác giả. Hơn nữa, kiến thức thì mênh mông, và kiến thức về "khoa học xã hội" thì không phải lúc nào cũng "hai với hai là bốn", đồng thời "chín người mười ý"... nên có gì chưa rõ, xin được trao đổi thêm qua email This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  hoặc qua số tel 0983877910 để tránh hiểu nhầm. 

Trần Văn Hảo

Tài liệu tham khảo:

1) Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thực hiện - Thư viện Pháp Luật.

2) Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính - Nxb Văn Hiến, 1970

3) Nếp cũ - Tín ngưỡng của Toan Ánh - Nxb Dân Tộc, 2009


Khách trực tuyến

Hiện có 28 khách, 0 thành viên online