Các trang đầu trong Gia phổ Tộc Trần Văn (Xuyên Tây - Quảng Nam) viết bằng chữ Nho trên giấy dó cách đây 150 năm, hiện được lưu giữ tại nhà thờ Tộc (Xuyên Tây - Duy Xuyên, Quảng Nam).

 

Lời tựa đó được dịch thoát theo nghĩa nôm như sau:

                                                                                       LỜI TỰA

"Thường nghe : Vạn vật trong trời đất lâu bền như vàng đá, tồn tại từ ngàn năm trước đến ngàn năm sau. Nhưng vàng rồi có lúc cũng phải tiêu hao, đá rồi có lúc cũng phải tan nát, nếu không được bảo vệ. Dẫu biết rằng công đức của Tổ tiên là trường tồn cùng trời đất, nhưng danh tính, thứ lớp của Tổ tiên phải được con cháu ghi chép rõ ràng thành gia phả thì mới lưu giữ được gốc tích và quá trình diễn dẫn từ đời trước đến các đời sau. Gia phả là một di sản vô giá của mỗi Tộc, mỗi Phái, giúp cho các thế hệ mai sau biết được nguồn cội dòng họ của mình.

Tổ tiên chúng ta xưa thọ phong tộc Trần, nguyên quán ở đất Bắc, di cư vào Nam, sơ cư ở đất Mỹ Xuyên thuộc Quảng Nam. Ban đầu chưa phân chia thành các phái, chỉ biết có Đông Tây nhị giáp. Về sau diễn dẫn thành 4 phái nương tựa cùng nhau ở đất Mỹ Xuyên này.

Lúc sơ khai đất rộng người thưa, Tổ của ta phải trải qua biết bao gian khổ để tự sinh tồn. Và cũng may mà tiền nhân có lưu lại một bản gia phổ - tuy đã rách nát, nhưng cũng là cái cơ sở để con cháu dụng kế chi thời, phục hồi cập nhật thành một bản mới.

Từ năm Canh Tý, chọn ngày mùng 2 tháng 7 làm ngày Tế Thu, con cháu 4 phái dâng lễ phẩm cúng tế tại từ đường để ghi nhớ công đức Tổ tiên.

Liệt Tổ ta sinh vi anh, thác vi linh (sống khôn, thác thiêng), ý kì bất hóa, tình sắt son như vàng đá. Nay tu bổ tường hệ, khó bề chính xác cả trăm phần nhưng cũng cố gắng phảng phất cái tinh anh.

Ôi! Núi gò cũng biến chuyển mà công đức Tổ tiên thì bất hũ, đời sau xét thứ lớp mà thấy, lấy lời hay ý đẹp để ca ngợi dòng họ ta ngày một thêm rạng rỡ.

Tu bổ Gia phả là việc làm hệ trọng, phải nghiêm cẩn như đại đình phát hiệu lệnh. Trên hết là tâm niệm lập thành nhật tàng để phụng tự, khi có ai quá cố thì ghi ngày húy kị để lưu giữ cái tánh danh, làm cho bất tử cái tinh thần của Tiên linh, ví như cái chung cái đỉnh trong cõi vũ trụ vậy. Kính bái !

(Người dịch nghĩa : Trần Văn Hảo - Đời thứ 14 – Dịch năm 2005)

 

 

Ghi chú : Do bản Gia phả của Tộc không ghi rõ năm Canh Tý dưới thời vua nào nên khó xác định năm dương lịch. Theo tính toán thì cứ 60 năm là có một năm Canh Tý. Năm Canh Tý gần đây nhất là năm 1960. Vậy trước đó là những năm 1900, 1840, 1780, 1720, 1660, 1540.

Bản Gia phả của Tộc ghi chép được 8 đời, từ đời thứ Nhất đến đời thứ Tám. Mỗi đời (thế hệ) khoảng 25 đến 30 năm ; suy ra đời thứ Nhất - lúc Tổ tiên ta vào Nam lập nghiệp, đến đời thứ Tám là khoảng hơn 200 năm. Vậy năm Canh Tí nêu trong Lời tựa ở Gia phổ Tộc có thể là năm 1780.

Tính đến nay trong Tộc đã có cháu ở đời thứ 16 được sinh ra. Bình quân mỗi đời là 25 đến 30 năm, nên tính ra thì Đời thứ Nhất từ Bắc di cư vô Nam vào khoảng năm 1600.

@@@@

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nguyên văn 3 trang chữ Nho "Lời tựa" trên đây được phiên âm Hán Việt, ghi bằng chữ quốc ngữ như sau:

CUNG LỤC TRẦN TỘC PHÚ Ý TỰ

Tờ 1 : "Thiên địa gian vật mạc thọ như kim thạch ngôn ư thiên tải thượng hướng truyền ư thiên tải hạ dã. Giai thác kim thạch dĩ bất hũ, nhiên kim hữu thời nhi tiêu, thạch hữu thời nhi lặc cụ sở thác, vị tất chân hữu hà thị dã, nhất  đắc kì thác nhi trác nhiên cụ bất hũ giả danh, danh hà dĩ minh viết hữu hệ giã hệ dã. Ngôn hệ phú chi tiền ý dã, cái tồn tánh tự dĩ trường hệ ư thiên địa gian ngưỡng duy tiên hẫu thị phong ư Trần thị kì sở xuất tự ngã.”

Liệt Tổ nam chi Mỹ Xuyên cư sơ vị phân tộc phái dã. Tự hữu Đông Tây nhị giáp nãi hữu Đông Tây tứ phái diên kì địa kì thời đãi y y tại dã nhiên địa tại dã. Ngã Tổ kì bất tại mĩ kĩ lưỡng chi hồ quán dã.

Tờ 2 : Dữ thành thời vãng hỉ nhi ngã Tổ kì giai vãng hỉ mang mang hồ tiền triều gia cận đại kỉ chi hồ đẳng chi thái bất khả đắc tri vô truyền diên tương tạo hóa chi ngu thức hậu nhân nhĩ nhiên dư hữu hạnh tiền tu hữu bổn tự vị thậm bác lạc dã duy niệm nhất kế khả dĩ phục trục nhất ảm bất khả dĩ phục minh niệm cập thử nhi nhất tân chi kì hề mạn vu thị tụ tộc nhi mưu chi thời. Duy Canh Tí niên thất nguyệt nhị nhật thu tế dã tứ phải tử tôn cửu thương trí tế vu tự đường tiền vực ngã.

Liệt Tổ sanh vi linh, một vi linh, ý kì bất hóa vị hư nhưỡng nhi vi kim thạch chi tinh, duy tu kì hệ nãi khả dĩ phưởng phất.

Tờ 3 : Hồ hồ sanh thứ kỉ tai lăng cốc biến thiên nhi danh bất hũ tỉ hậu lai khảo thế hệ giả. Dĩ mục chi nhi bất khả dĩ khẩu nhất nhàn tôn danh lẫm hồ nhược thiên môn chi thứ lôi đình túc hồ nhược đại đình chi phát hiệu lịnh vô bất mục cù tâm cù thần vi kinh hựu hựu tỉ thế thế đốc sinh hoặc thủ tín nghĩa tượng loại tri kính tị diên diệc phụng.

Tiên nhi nhất niệm dã thu thành nhật tàng chi tự tẩm tương dĩ tốt tử tánh tùng tín trường tự khả dĩ thượng úy tiềm linh nhi bất tử chi tinh thần bất hũ chi tính danh. An tri kì bất chung đỉnh trường tồn vũ trụ chi gian, kì vi thọ vu kim thạch giả diệc nghi thị dĩ tự. Kính bái !

(Người phiên âm : Trần Triều (Cánh) - Đời thứ 13 – Phiên âm năm 2005)


Khách trực tuyến

Hiện có 32 khách, 0 thành viên online